Home / Giáo dục / Ngữ điệu và nhịp điệu (Intonation & Rhythm Patterns)

Ngữ điệu và nhịp điệu (Intonation & Rhythm Patterns)

What is Intonation in English - Intonation Patterns - Normal- High - Low

Ngữ điệu và nhịp điệu (Intonation & Rhythm Patterns)

Ngữ điệu (Intonafion) và nhịp điệu (rhythm patterns) hàm chứa rất nhiều ý nghĩa của tiếng Anh, So với tiếng Việt nó cũng giống như thanh điệu (ones). Nhưng thanh điệu của tiếng Việt gắn với từ, thay đổi thanh điệu là thay đổi nghĩa từ, còn ngữ điệu và nhịp điệu tiếng Anh gắn với câu. Bạn có thể phát âm từng âm của tiếng Anh một cách hoàn hảo, nhưng nếu bạn dùng sai trọng âm từ và trọng âm câu thì toàn bộ phát ngôn của bạn không thể hiểu được. Ngoài ra ý nghĩa bạn muốn chuyển tải trong một phát ngôn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự lên giọng xuống giọng, và nhịp của câu. Người Anh/Mỹ coi những yếu tố này như giai điệu của lời nói. Trong tình huống giao tiếp bình thường, giọng nói của họ liên tục lên lên xuống xuống. Muốn cho lời nói của mình dễ hiểu, người học không có cách nào khác là phải luyện cách làm nổi bật những từ quan trọng trong lời nói của mình.

Sau khi đã nắm được các mẫu ngữ điệu và nhịp điệu trong Đĩa số 7, chúng tạ sẽ tiếp tục sử dụng nó để tiến hành các bài tập luyện trong Đĩa số 8 & 9, Trong khi luyện tập, đôi khi chúng ta phải thậm xưng những mẫu ngữ điệu hoặc nhịp điệu, đặc biệt là đối với người nước ngoài nói tiếng Anh. Nhiều khi người nước ngoài tưởng mình đã dùng đúng độ cao (enough pitch), nhưng thực ra lại dùng chưa đạt độ cao yêu cầu (barely enough pitch). Tốt nhất là cứ làm quá lên một chút, sau nầy sẽ điều chính.

 

Các bạn cứ để ý quan sát phát thanh viên trong các chương trình tin truyền hình thì sẽ thấy họ luôn luôn dùng độ cao của giọng và ngữ điệu để thu hút sự chú ý của người nghe vào những ý chính.

Ngữ điệu (intonation)

Nói đến ngữ điệu, chúng ta phải nói đến độ cao của giọng (pitch). Trong tiếng Anh/Mỹ, độ cao của giọng được miều tả thành hai bậc: cao (high) và thấp (low). Đây thật ra là  sự phân biệt có tính võ đoán (arbitrary choices) để xác định điểm kết thúc của thang giọng (pitch scale). Trên thực tế, từ “thấp ” đến “cao” là một dải giọng gồm nhiều bậc cao thấp khác nhau, chứ không phải là hai điểm thấp :: cao. Việc cảm nhận dải giọng này đối với người Việt cũng khó khăn như sự cảm nhận sáu thanh điệu tiếng Việt của người Anh, Mỹ. Ngữ điệu là sự thay đối giọng (pitch changes) và nhịp điệu (rhythm patterns) của câu. Nó có liên quan đến việc “nhảy lên ” (jump up) một độ giọng cao hơn (higher note) trong những từ quan trọng trong một câu, Nói một cách đơn gián nhất, khi người Anh/Mỹ nói một câu với thái độ khẳng định (definite, final manner), họ dùng ngữ điệu xuống (falling tune), nghĩa là giọng của họ hạ từ một bậc cao hơn xuống mội bậc thấp hơn trong một câu. Ngược lại nếu họ nói với một thái độ nghị vấn (questioning manner) thì học đùng ngữ điệu lên (rising tne), tức là sự chuyển giọng từ thấp lên cao.

Ngoài ra còn hai ngữ điệu thông dụng nữa: (a) xuống-lên (fall-rise) khi muốn thể hiện thái độ đồng ý một phần, không hoàn toàn đồng ý (not completely agree with smb), hoặc còn gọi là “đồng ý có mức độ” (limited agreement), và (b) lên xuống (rise-fall) dùng để thể hiện thái độ hoàn toàn đồng ý, hoặc không đồng ý, hoặc ngạc nhiên (strong feelings of approval, disapproval, or surprise). Tuy nhiên người học thường không cần học hai ngữ điệu này, mà chỉ cảm nhận để phân biệt khi nghe người Anh/Mỹ nói mà thôi.

Muốn học ngữ điệu tiếng Anh một cách có hiệu quả thì phải học như một đứa trẻ Anh/Mỹ cảm thụ ngữ điệu tiếng mẹ để của nó. Người Việt muốn họ ngữ điệu tiếng. Anh để có thể sử dụng có hiệu quả thì phương thức tốt nhất là tạo cơ hội luôn luôn tiếp xúc với giọng nói bản ngữ, hoặc trực tiếp hoặc qua phương tiện kỹ thuật.

Bây giờ chúng ta xét hai người nói hai câu:

Chú ý: Khi nói đến một từ quan trọng thì nhảy lên cao (jump up), rồi nhậy xuống thấp (step down) ở từ tiến theo, rồi hạ hẳn giọng xuống (drop) ở cuối từ:

A: I ride the bicycle to get to work

B: I ride the bicycle for exercise

Hai người ở đây cùng đi xe đạp nhưng khác nhau về mục đích, Do đó A muốn thu húi người nghe vào mnục đích của mình, anh ta nhấn mạnh vào “work”, anh ta “jump up” ở từ “work”, Ngược lại B lại muốn thu hút người nghe vào “cxercise”, anh ta “jumps up” Ở từ ”exercise”.

Người nói hoàn toàn quyết định từ nào là từ quan trọng trong lời nói của mình, và dùng độ cao của giọng để làm nổi bật nó lên.

Chủ ý: độ cao của giọng (pitch) không phải là độ to (loudness). Có thể nói to những không cao.

GZ: Intonation deals with pitch changes and rhythm variations. The pitch change we are concerned with a jump up in pitch to a higher note on the important words. Now, here is the American Pich Pattern:

Jump Up in pitch on the important word, and Step Down on the words following. Jump up and step down and drop at the end of the sentence.

Now, it’s the same pattern, basically, over and over, that Americans are used to hearing. So when you speak it, you become more understandable, more expressive, more interesting, and, of course, mọre American sounding.

CH: There are always exceptions, of course, bụt thịs is the most common pattern. A majority of words in English have thịs kind of first sy1lable stress.

RT: What if Ï say, “I ride a bicycle to get to work, ”

CH: Now the context of your statement has changed because you want to stress “work”. Your main idea now is “work” as opposed to “exercise” And my reply to you now wIll be:

“J ride a bicycle for exercise, ”

 

GZ: You see the word that is most important to you depends on your situation. Finally, you decide what are the most important ideas, And use pitch to make them stand out.

Xem thêm: https://hochay.com/master-spoken-english-luyen-phat-am-tieng-anh-my-dia-so-7-hoc-hay-685.html

Spread the love

About Huyền Trang

Check Also

Ôn tiếng anh giao tiếp – Tiếng anh cho người đi làm – Lái xe – Học Hay

Những mẫu câu thường dùng giao tiếp khi lái xe – Tiếng anh giao tiếp …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *